Lược sử Võ cổ truyền Việt Nam


Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.


Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."


Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Đại Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)...


Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng. Toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là sư tổ Nguyễn Văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng Văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là "Tam Nhựt" gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam (VABA),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là "Tam Nguyệt") tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.


Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia... Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là "Tứ Tú" (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp "Tam Nhựt" (ba mặt trời) và "Tam Nguyệt" (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.



Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam...


Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:
-Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
-Thích hợp với nhiều loại địa hình.
-Thực dụng, linh hoạt.
-Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
-Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
-Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.

*TRANG PHỤC, ĐAI, ĐẲNG CẤP, ĐIỀU KIỆN THI CHUYỂN CẤP, PHONG CẤP

- Trang phục

1. Trang phục của Vận động viên Võ thuật cổ truyền tại các giải toàn quốc như sau:
a) Võ phục mầu đen, áo cổ bâu, quần không gôm ống;
b) Phù hiệu Võ thuật cổ truyền Việt Nam bên ngực trái của áo;
c) Tên đơn vị (tỉnh, thành, ngành) sau lưng.

2. Trang phục của Trọng tài
a) Quần tây trắng, áo sơ mi trắng ngắn tay (mùa đông dài tay) không có cầu vai, túi áo không có nắp;
b) Phù hiệu Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam bên áo ngực trái;
c) Nơ mầu đen, thắt lưng mầu đen, giầy mầu trắng đế mềm.

- Đai và mầu đai

1. Đai bằng loại vải mềm có bề rộng từ 6 đến 8 cm, có thêu chữ “VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM”.
2. Mầu đai của Võ thuật cổ truyền Việt Nam được chia 5 mầu theo đẳng cấp và xếp thứ tự từ thấp đến cao như sau:
a) Đai đen;
b) Đai xanh (lá cây);
c) Đai đỏ;
d) Đai vàng;
e) Đai trắng.

- Đẳng cấp

Chương trình huấn luyện của Võ thuật cổ truyền Việt Nam được chia thành 18 cấp và 6 bậc như sau:
1. Học viên: từ cấp 1 đến cấp 8.
2. Hướng dẫn viên: từ cấp 9 đến cấp 11.
3. Huấn luyện viên sơ cấp: từ cấp 12 đến cấp 14.
4. Huấn luyện viên trung cấp: từ cấp 15 đến cấp 16 (lứa tuổi từ 20 trở lên).
5. Huấn luyện viên cao cấp: cấp 17 (lứa tuổi từ 25 trở lên).
6. Võ sư: cấp 18 (lứa tuổi 27 trở lên).

- Điều kiện thi

1. Đối với công dân Việt Nam :
a) Các cấp thi :
- Thi cấp Chi hội: có giấy giới thiệu của Chủ nhiệm CLB, Trưởng môn phái, võ đường.
- Thi cấp Hội: có giấy giới thiệu của cơ quan Thể dục thể thao cấp quận, huyện; chi hội.
- Thi cấp Liên đoàn: có giấy giới thiệu của Hội hoặc cơ quan Thể dục thể thao cấp tỉnh, thành và cơ quan Thể dục thể thao cấp Bộ các ngành;
b) Điều kiện để thi :
- Không vi phạm pháp luật, có đạo đức tốt.
- Đối với võ sinh thi lần đầu: Thẻ hội viên, giấy giới thiệu của cơ quan quản lý trực tiếp (Hội, Chi hội hoặc cơ quan TDTT).
- Đối với thi lên cấp: chứng nhận đẳng cấp cũ, giấy giới thiệu của cơ quan quản lý trực tiếp (Hội, Chi hội hoặc cơ quan TDTT).


+ Học viên:
Đai đen 1 vạch xanh
Đai đen 2 vạch xanh
Đai đen 3 vạch xanh
Đai xanh 1 vạch đỏ
Đai xanh 2 vạch đỏ
Đai xanh 3 vạch đỏ

+ Hướng dẫn viên
Đai đỏ 1 vạch vàng
Đai đỏ 2 vạch vàng

+ Huấn luyện viên sơ cấp
Đai vàng 1 vạch trắng
Đai vàng 2 vạch trắng

+ Huấn luyện viên trung cấp
Đai vàng 3 vạch trắng
Đai vàng 4 vạch trắng

+ Huấn luyện viên cao cấp
Đai trắng

+Võ sư
Đai trắng có tua


2. Đối với người Việt Nam sống ở nước ngoài hay người nước ngoài
a) Thực hiện đúng quy chế quản lý các đoàn ra và các đoàn nước ngoài vào Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực TDTT đã được ban hành tại Quyết định số 1928/2004/QĐ-UBTDTT ngày 31/12/2004 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao Việt Nam; đồng thời có ý kiến thống nhất của Chủ tịch Liên đoàn VTCT Việt Nam và chính quyền địa phương từng cấp;
b) Có giấy giới thiệu của các Hiệp hội, Liên đoàn Võ thuật ở nước sở tại (nước mà người muốn dự thi đã có Liên đoàn, Hiệp hội);
c) Phải có đơn xin thi lên cấp, sơ yếu lý lịch;
d) Có đủ trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp;
đ) Đóng lệ phí theo qui định;
e) Các thủ tục khác theo quy chế chuyên môn.

II.TỔ CHỨC THI ĐAI ĐẲNG CÁC CẤP

- Nội dung thi của các cấp

1. Nội dung thi từ cấp 1 đến cấp 8 :
- Phong cách.
- Căn bản: tấn pháp, thủ pháp, cước pháp.
- Một bài quyền tự chọn của môn phái.
- 6 thế đối luyện tay không với tay không.
- Lý thuyết.

2. Nội dung thi từ cấp 9 đến cấp 11 :
- Phong cách.
- 1 bài quyền tự chọn của môn phái.
- 1 bài binh khí tự chọn của môn phái.
- 4 thế song luyện tay không với tay không.
- 4 thế song luyện tay không với binh khí hoặc binh khí với binh khí.
- Lý thuyết.

3. Nội dung thi từ cấp 12 đến cấp 14 :
- 1 bài quyền qui định (bốc thăm trong các bài qui định của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam).
- 1 bài binh khí qui định (bốc thăm trong các bài qui định của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam).
- 1 bài binh khí tự chọn của môn phái.
- Lý thuyết.

4. Nội dung thi từ cấp 15 đến cấp 16 :
- Phong cách.
- Căn bản thực hành.
- 1 bài quyền tay không + 1 bài quyền binh khí (bốc thăm trong các bài qui định của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam).
- Trình bày một giáo án mẫu.
- Phân tích, ứng dụng các đòn công, thủ, phản và các yếu lý của nó theo đề tài Ban giám khảo đưa ra.
- Lý thuyết.

5. Nội dung thi cấp 17 :
- Phong cách.
- Căn bản: phân tích tấn pháp, thủ pháp, cước pháp.
- 1 bài quyền binh khí (bốc thăm trong các bài qui định của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam).
- 1 bài quyền tay không + 1 bài binh khí tự chọn của môn phái.
- Trình bày một kế hoạch huấn luyện.
- Lý thuyết.

6. Nội dung thi cấp 18 :
- Phong cách.
- 1 bài qui định (bốc thăm trong các bài qui định Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam).
- 2 bài binh khí tự chọn .
- Trình bày giáo trình huấn luyện.
- Lý thuyết.

- Tổ chức thi

a) Cấp 1 đến cấp 8: do các Chi hội tổ chức thi tập trung
- Chi hội lập hồ sơ thi theo qui chế chuyên môn, gửi các văn bản và đơn đề nghị tổ chức thi về Hội VTCT, thời gian trước khi thi 7 ngày;
- Giám sát và công nhận kết quả: do BCH Hội VTCT hoặc cơ quan TDTT địa phương (đơn vị) cử đến;
- Chi hội cấp văn bằng và quản lý;

b) Cấp 9 đến cấp 14: do Hội VTCT tổ chức thi tập trung
- BCH Hội VTCT hoặc cơ quan TDTT địa phương (đơn vị) lập hồ sơ, gửi công văn xin phép tổ chức thi về Văn phòng Liên đoàn, thời gian trước khi thi 15 ngày;
- Chủ tịch Liên đoàn VTCT Việt Nam cử giám sát và công nhận kết quả thi;
- Ban chấp hành Hội cấp văn bằng và quản lý;
- Gửi kết quả thi về Văn phòng Liên đoàn chậm nhất là sau 15 ngày tổ chức thi;

c) Cấp 15 đến cấp 18 : do Liên đoàn võ thuật cổ truyền tổ chức thi theo đề nghị của Ban chấp hành các Hội VCTC hoặc cơ quan TDTT địa phương (đơn vị) thời gian trước khi thi 30 ngày;
- Hồ sơ đề nghị xin dự thi gửi về Văn phòng Liên đoàn bao gồm:
+ Đơn đề nghị của Hội VTCT hoặc cơ quan TDTT địa phương (đơn vị);
+ Danh sách học viên dự thi;
- Chủ tịch Liên đoàn ra quyết định cho phép tổ chức thi và thành lập Hội đồng thi (do văn phòng và ban kỹ thuật đề xuất);
- Chủ tịch Hội đồng thi và Hội VTCT địa phương (hoặc cơ quan TDTT địa phương, đơn vị) tổ chức xác nhận kết quả thi vào phiếu kiểm tra chuyên môn và bảng tổng hợp kết quả thi. Sau đó gửi về Văn phòng điều hành Liên đoàn;
- Chủ tịch Liên đoàn ra quyết định công nhận và cấp văn bằng.

- Kinh phí tổ chức kiểm tra

1. Học viên dự thi các cấp phải tự túc kinh phí dự thi. Kinh phí do địa phương, đơn vị tổ chức thu và chi.
2. Địa phương, đơn vị tổ chức thi chi tiền đi lại, ăn, ở công tác cho các thành viên Ban giám sát, Hội đồng thi của Liên đoàn cử đến.

III. TRỌNG TÀI

- Phân hạng Trọng tài

1. Trọng tài là những người đủ sức khoẻ, năng lực, đạo đức và lứa tuổi từ 25 đến 50 đã qua các lớp bồi dưỡng chuyên môn Trọng tài do Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam và Hội Võ thuật cổ truyền địa phương tổ chức.
2. Trọng tài được phân thành 3 cấp:
a) Trọng tài quốc gia: được điều hành tại các giải Quốc gia và Quốc tế;
b) Trọng tài cấp 1: được điều hành tại các giải cấp Tỉnh, Thành phố và tương đương;
c) Trọng tài cấp 2: được điều hành tại các giải cấp Huyện và tương đương.

- Thể thức đào tạo Trọng tài

1. Trọng tài cấp Quốc gia và cấp 1: theo học các lớp do Uỷ ban Thể dục thể thao hoặc Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam tổ chức. Được kiểm tra đạt về trình độ chuyên môn và tư cách trọng tài.
2. Trọng tài cấp 2: theo học các lớp do Sở Thể dục thể thao hoặc Hội Võ thuật cổ truyền các tỉnh, thành phố trực thuộc TW tổ chức. Được kiểm tra đạt trình độ chuyên môn và tư cách trọng tài.

- Đẳng cấp của Vận động viên Võ thuật cổ truyền

Theo quy định của Uỷ ban Thể dục thể thao.

IV. CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN

- Tiêu chuẩn “Bài quyền” được tuyển chọn thành bài thống nhất của Liên đoàn VTCT Việt Nam:

1. Tên gọi của bài.
2. Xuất xứ (ghi rõ nguồn gốc, dòng võ).
3. Ý nghĩa, lợi ích về sức khoẻ.
4. Lời thiệu (hay tên từng động tác).
5. Số lượng kỹ thuật gồm: Số đòn tay, đòn chân, số động tác.
6. Thời gian thực hiện: loại giỏi, khá, trung bình, kém (tính theo thời gian là phút); các đoạn dừng (giây).
7. Đồ hình diễn quyền.
8. Diễn quyền: diễn giải từng động tác, hướng di chuyển, tấn pháp, hướng nhìn, bộ pháp.
9. Bài quyền phải biểu lộ được đặc trưng kỹ thuật, nghệ thuật là bài Võ cổ truyền Việt Nam.

V. NHỮNG QUY ĐỊNH KHÁC

- Tổ chức các giải Võ thuật cổ truyền

1. Việc xin tổ chức thi đấu Võ thuật cổ truyền phải theo quy định của pháp luật và Điều lệ Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.
2. Hệ thống giải thi đấu, Hội diễn Võ thuật cổ truyền cấp toàn quốc, quốc tế do Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam lên kế hoạch và xin phép Uỷ ban Thể dục thể thao.
3. Hệ thống giải thi đấu, hội diễn Võ thuật cổ truyền cấp tỉnh và tương đương do Hội võ thuật cổ truyền tỉnh lên kế hoạch và xin phép cơ quan Thể dục thể thao địa phương, đơn vị.

- Mở lớp huấn luyện

1. Huấn luyện viên trung cấp trở lên được phép mở lớp huấn luyện .
a) Thủ tục xin mở lớp:
- Đơn xin Hội võ thuật cổ truyền của Tỉnh và cơ quan TDTT địa phương, đơn vị;
- Đầy đủ các giấy tờ theo quy định của Pháp luật và Điều lệ của Hội, của Liên đoàn;
b) Chỉ được mở lớp khi được phép của Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
2. Các đối tượng khác chỉ được phép làm trợ giảng.